Giáo dục tại Hoa Kỳ

Giáo dục tại Hoa Kỳ được cung cấp tại các trường công lập thục và bởi các cá nhân thông qua giáo dục tại nhà . Chính quyền tiểu bang đặt ra các tiêu chuẩn giáo dục tổng thể, thường bắt buộc thực hiện các bài kiểm tra tiêu chuẩn cho các hệ thống trường công lập K–12 và giám sát, thường thông qua hội đồng quản trị, các trường cao đẳng và đại học của tiểu bang. Phần lớn trong số 1,3 nghìn tỷ đô la tài trợ đến từ chính quyền tiểu bangđịa phương , trong đó tài trợ của liên bang chiếm khoảng 260 tỷ đô la vào năm 2021 [9] so với khoảng 200 tỷ đô la trong những năm trước. [2]

Các trường tư thục được tự do xác định chương trình giảng dạy và chính sách nhân sự của riêng họ, với sự công nhận tự nguyện có sẵn thông qua các cơ quan kiểm định khu vực độc lập, mặc dù một số quy định của tiểu bang có thể được áp dụng.

Vào năm 2013, khoảng 87% trẻ em trong độ tuổi đi học (những học sinh chưa tốt nghiệp đại học ) theo học tại các trường công lập do nhà nước tài trợ, khoảng 10% học tại các trường tư thục do quỹ tài trợ và học phí, [10] và khoảng 3% học tại nhà. [11]

Theo luật tiểu bang, giáo dục là bắt buộc đối với độ tuổi bắt đầu từ năm đến tám tuổi và kết thúc ở độ tuổi từ mười sáu đến mười tám, tùy thuộc vào tiểu bang. [12] Yêu cầu này có thể được đáp ứng tại các trường tư thục công lập hoặc được tiểu bang chứng nhận , hoặc một chương trình học tại nhà đã được phê duyệt. Giáo dục bắt buộc được chia thành ba cấp: tiểu học , trung học cơ sở hoặc trung học cơ sởtrung học phổ thông .

Nhiều trường cao đẳng và đại học công lập và tư nhân cung cấp nhiều loại giáo dục sau trung học. Giáo dục sau trung học được chia thành cao đẳng , là bằng đại học đầu tiên, và cao học. Giáo dục đại học bao gồm các trường đại học nghiên cứu công lập, các trường cao đẳng nghệ thuật tự do tư nhân, các trường cao đẳng và đại học lâu đời dành cho người da đen, các trường cao đẳng cộng đồng, các trường cao đẳng vì lợi nhuận, và nhiều loại và tổ hợp các tổ chức khác. Tỷ lệ nhập học đại học ở Hoa Kỳ đã tăng lên trong thời gian dài. [13] Đồng thời, nợ vay sinh viên cũng đã tăng lên 1,5 nghìn tỷ đô la.

Theo một báo cáo năm 2016 do US News & World Report công bố , trong số mười trường cao đẳng và đại học hàng đầu trên thế giới, tám trường là của Mỹ. [14]


Sơ đồ giáo dục tại Mỹ
Một tòa nhà của Học viện Công nghệ New York trong khuôn viên Manhattan
Nhóm Đại học Chicago đã nghiên cứu sản xuất phản ứng hạt nhân nhân tạo, tự duy trì đầu tiên trên thế giới, bao gồm Enrico Fermi ở hàng đầu tiên và Leó Szilárd ở hàng thứ hai
Đại học MiamiCoral Gables, Florida
Brookings Hall của Đại học Washington ở St. Louis , thành lập năm 1853.
Chi tiêu giáo dục của Hoa Kỳ tính theo tỷ lệ GDP, 1950 đến 2015 [96]
Nghiên cứu so sánh doanh thu đại học trên mỗi sinh viên theo học phí và tài trợ của tiểu bang bằng đô la năm 2008. [97]
Chi phí giáo dục đại học của Mỹ so với chỉ số giá tiêu dùng (lạm phát)
Tổng chi phí giáo dục của Hoa Kỳ theo thời gian, tính bằng đô la tuyệt đối và tính theo % GDP.
Trình độ học vấn từ năm 1940 [135]
Tỷ lệ tốt nghiệp trung học trên mỗi bang năm 2017
  90,0–90,4%
  85,0–89,9%
  80,0–84,9%
  69,9–79,9%
NAEP đọc xu hướng dài hạn cho lứa tuổi 9 (xám nhạt), 13 (xám đậm) và 17 (đen)
Tổng thống George W. BushĐạo luật Không trẻ em nào bị bỏ lại phía sau
TOP